Ông Ngô Ngọc Tân (Đà Nẵng) đề nghị cơ quan chức năng làm rõ một số nội dung về đăng ký cấp mã số cơ sở trồng loài thực vật thuộc phụ lục CITES trước thời điểm Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT có hiệu lực.
Theo phản ánh của ông Tân, khoản 3 Điều 38 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp quy định:
"Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thống kê các cơ sở trồng đã trồng loài nguy cấp, quý, hiếm hoặc loài thuộc Phụ lục CITES trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành nhưng chưa được cấp mã số hoặc Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học và gửi cơ quan cấp mã số, cơ quan cấp Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học. Cơ quan cấp mã số, cơ quan cấp Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học theo quy định tại Thông tư này thực hiện cấp mã số cơ sở trồng, Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin của Sở Nông nghiệp và Môi trường".
Bên cạnh đó, tại điểm a khoản 3 Điều 25 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT quy định điều kiện đối với trồng loài thuộc Phụ lục CITES là phải: "Có nguồn gốc hợp pháp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý lâm sản; xử lý lâm sản, thủy sản là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân hoặc có hồ sơ giống cây trồng lâm nghiệp hợp pháp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý giống cây trồng lâm nghiệp đối với trường hợp trồng thực vật là giống cây trồng lâm nghiệp".
Hiện nay, gia đình ông Tân có khoảng 0,5 ha cây Dó bầu (Aquilaria crassna) – là loài thực vật thuộc Phụ lục II CITES – được trồng từ năm 2010. Nguồn giống được mua từ người dân tại địa phương vào thời điểm đó; tuy nhiên đến nay gia đình không còn lưu giữ được hồ sơ, giấy tờ chứng minh nguồn gốc giống.
Qua nghiên cứu, ông nhận thấy quy định tại khoản 3 Điều 38 mang tính chất quy định chuyển tiếp, yêu cầu thống kê để xem xét cấp mã số cơ sở trồng; tuy nhiên Thông tư chưa làm rõ việc áp dụng điều kiện "nguồn gốc hợp pháp" theo điểm a khoản 3 Điều 25 đối với các trường hợp đã trồng trước thời điểm Thông tư có hiệu lực.
Ông hỏi, vậy đối với các cơ sở trồng loài nguy cấp, quý, hiếm hoặc loài thuộc Phụ lục CITES đã trồng trước thời điểm Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT có hiệu lực, khi thực hiện thống kê theo quy định tại khoản 3 Điều 38 thì có bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về nguồn gốc hợp pháp theo điểm a khoản 3 Điều 25 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT hay không, hay được xem xét, áp dụng theo cơ chế quản lý chuyển tiếp?
Trường hợp được phép đăng ký mã số cơ sở trồng, theo hướng dẫn tại Mẫu số 31 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT (phương án trồng cấy nhân tạo các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm; thực vật thuộc Phụ lục CITES), tại mục 10 yêu cầu mô tả tài liệu chứng minh nguồn giống hợp pháp của loài dự kiến đăng ký trồng. Đối với các cơ sở đã trồng trước thời điểm Thông tư có hiệu lực nhưng không còn hồ sơ, tài liệu chứng minh nguồn gốc giống thì việc mô tả, kê khai nội dung này được thực hiện như thế nào cho phù hợp? Do số Dó bầu đã trồng hiện nay của gia đình ông Tân không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc của lâm sản.
Trường hợp diện tích 0,5 ha cây Dó bầu nêu trên được cơ quan có thẩm quyền cấp mã số cơ sở trồng thì gia đình ông có được phép khai thác, xuất bán lâm sản theo quy định hiện hành hay không?
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:
Khoản 3 Điều 38 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp quy định chuyển tiếp như sau:
"Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thống kê các cơ sở trồng đã trồng loài nguy cấp, quý, hiếm hoặc loài thuộc Phụ lục CITES trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành nhưng chưa được cấp mã số hoặc Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học và gửi cơ quan cấp mã số, cơ quan cấp Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học. Cơ quan cấp mã số, cơ quan cấp Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học theo quy định tại Thông tư này thực hiện cấp mã số cơ sở trồng, Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin của Sở Nông nghiệp và Môi trường".
Do vậy, đề nghị ông liên hệ trực tiếp với Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng để biết thông tin về việc triển khai cấp mã số cho các cơ sở đã trồng thực vật trên địa bàn nhưng chưa được cấp mã số.
Sau thời hạn 12 tháng kể từ ngày Thông tư số 85/2015/TT-BNNMT có hiệu lực thi hành, các cơ sở trồng cấy nhân tạo phải đăng ký mã số cơ sở trồng hoặc đăng ký Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học bảo đảm tuân thủ quy định tại Điều 18 hoặc Điều 25 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT, trừ trường hợp không bắt buộc phải đăng ký mã số cơ sở trồng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 25 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT, cơ sở đã được cấp mã số được phép khai thác, xuất bán, chuyển giao quyền sở hữu, vận chuyển. Chủ cơ sở trồng thực hiện cập nhật các thông tin vào sổ theo Mẫu số 10 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT và thực hiện quy định về hồ sơ lâm sản theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý lâm sản; xử lý lâm sản, thủy sản là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân (Thông tư số 26/2025/TT-BNNMT ngày 24/6/2025, được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025).
Nguồn: chinhphu.vn